Cập nhật theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Văn bản hợp nhất số 121/VBHN-VPQH năm 2025). Bài viết mang tính tham khảo; việc chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp có tranh chấp do Tòa án quyết định theo chứng cứ cụ thể.
Nhà đất thường là tài sản lớn nhất của một gia đình, nên khi vợ chồng ly hôn, đây cũng là phần dễ phát sinh tranh chấp nhất. Một bên muốn giữ nhà để ở cùng con, một bên muốn bán để chia tiền. Luật Hôn nhân và gia đình đặt ra các nguyên tắc rõ ràng, nhưng kết quả cụ thể phụ thuộc nhiều vào thỏa thuận và chứng cứ của từng gia đình.
1. Xác định nhà đất là tài sản chung hay tài sản riêng
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất (khoản 2 Điều 33). Nếu không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung (khoản 3 Điều 33).
Khoản 1 Điều 62 quy định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
2. Nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn
Nguyên tắc | Nội dung chính | Căn cứ |
|---|---|---|
Ưu tiên thỏa thuận | Vợ chồng tự thỏa thuận việc chia; không thỏa thuận được thì một hoặc cả hai bên yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu đã có thỏa thuận về chế độ tài sản thì áp dụng thỏa thuận đó | Khoản 1 Điều 59 |
Chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố | Hoàn cảnh của gia đình và của mỗi bên; công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản (lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập); bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên để có điều kiện tiếp tục lao động; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng | Khoản 2 Điều 59 |
Chia bằng hiện vật hoặc giá trị | Chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nhận phần hiện vật nhiều hơn phần mình được hưởng phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia | Khoản 3 Điều 59 |
Bảo vệ con và người yếu thế | Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình | Khoản 5 Điều 59 |
Với đất ở là tài sản chung, việc chia áp dụng các nguyên tắc tại Điều 59 (điểm c khoản 2 Điều 62).
3. Những tình huống cần lưu ý
Nghĩa vụ với người thứ ba, chẳng hạn khoản vay ngân hàng đang thế chấp bằng nhà đất, vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 60).
Vợ chồng sống chung với gia đình bên nội hoặc bên ngoại: nếu không xác định được phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình, việc chia được xem xét theo công sức đóng góp (Điều 61).
Sổ chỉ đứng tên một người không tự động biến nhà đất thành tài sản riêng của người đó; vẫn phải xem nguồn gốc tài sản theo Điều 33. Xem thêm nhà đất là tài sản chung vợ chồng.
4. Muốn bán nhà đất khi đang hoặc sau ly hôn
Khi tài sản chung chưa được chia, việc bán cần sự tham gia của cả hai vợ chồng.
Nếu hai bên thống nhất bán rồi chia tiền, nên lập văn bản thỏa thuận rõ cách chia tiền và ai chịu chi phí, thuế phí.
Nếu đã có thỏa thuận chia hoặc bản án, quyết định của Tòa án giao nhà đất cho một bên, người đó thực hiện thủ tục đăng ký biến động trước khi bán.
Kiểm tra khoản thế chấp, nghĩa vụ với ngân hàng trước khi đặt cọc.
Ký hợp đồng tại tổ chức hành nghề công chứng; xem công chứng hợp đồng mua bán nhà đất.
Bạn cần thống nhất phương án với nhà đất sau ly hôn hoặc muốn bán để chia tiền tại Quy Nhơn? Liên hệ Minh Dũng Land để được tư vấn, hoặc ký gửi bất động sản khi các bên đã thống nhất bán.

